Hậu duệ Lý Long Tường vẫn tự hào về “Hoa Sơn tướng quân” chống giặc Mông xâm lược bờ cõi Cao Ly.
Hoa Sơn tướng quân
Vua Cao Tông của nước Cao Ly đã tiếp đón vị hoàng tử và đoàn tùy
tùng lánh nạn từ Đại Việt sang. Bút đàm bằng chữ Hán đã giúp họ hiểu
hoàn cảnh của nhau. Nhà vua cấp cho họ vùng đất ở Ung Tân để làm ăn sinh
sống.
Lý Long Tường đã 52 tuổi, ông cùng gia nhân và binh sĩ bắt đầu cuộc
sống mới trên xứ người với mọi nghề để sinh sống: vỡ đất, trồng rau,
trồng cây, chăn nuôi, đánh cá... Mang nặng niềm thương nhớ cố quốc và
ngày khôi phục lại giang sơn họ Lý, ông cho mở Độc thư đường dạy văn
(thi phú, lễ nhạc, tế tự) và Giảng võ đường dạy võ (binh pháp, võ
thuật).
Chẳng bao lâu, quân Mông Cổ trong thế lớn mạnh, đem quân bành
trướng sang các nước láng giềng, đến những nước xa xôi tận phía nam như
Đại Việt (VN) và phía đông bắc như Cao Ly. Năm 1232, vua Mông Cổ là
Ögedei (Oa Khoát Đài) chia quân hai đường thủy - bộ đánh sang Cao Ly.
Đường bộ, quân Mông Cổ tách làm hai, một cánh đánh thẳng vào kinh
đô Khai Kinh, trung tâm nước Cao Ly, và một cánh quân đánh các tỉnh miền
tây. Thủy quân Mông Cổ vượt giữa Trung Hoa và Cao Ly, tiến đánh tỉnh
Hoàng Hải. Cuộc tấn công này đã bị đẩy lui. Lý Long Tường là một trong
những tướng chỉ huy góp công đánh lùi quân Mông Cổ ở tỉnh Hoàng Hải.
Đến năm 1253, Đại hãn Mông Kha của Mông Cổ cậy binh hùng tướng mạnh
lệnh xuất quân xâm lăng Cao Ly lần nữa. Quân Mông Cổ do Đường Cơ chỉ
huy tấn công Hoàng Hải bằng cả đường thủy lẫn đường bộ. Lý Long Tường đã
dùng binh pháp của Đại Việt huấn luyện cho dân làng và binh sĩ người
Cao Ly để chống lại quân Mông Cổ.
Lão tướng Lý Long Tường khi ra trận cưỡi ngựa trắng đôn đốc binh sĩ
chống trả quân xâm lăng. Bởi vậy sau này người dân trong vùng gọi ông
là Bạch Mã tướng quân, có nghĩa dũng tướng cưỡi ngựa trắng. Lý Long
Tường đã cầm cự vững vàng vùng đất này suốt 5 tháng ròng rã cho đến khi
quân Mông Cổ phải đầu hàng. Sau chiến công này, vua Cao Ly đổi tên Trấn
Sơn thành Hoa Sơn, phong Lý Long Tường làm Hoa Sơn tướng quân. Nơi quân
Mông đầu hàng gọi là “Thụ hàng môn”. Năm 1711, người Cao Ly dựng một tấm
bia ghi công trạng của Lý Long Tường, di tích này hiện nay vẫn còn.
Nhớ về nguồn cội
Cây có cội, nước có nguồn. Dù được vua Cao Tông trọng thị, lập
chiến công hiển hách nhưng Hoa Sơn tướng quân vẫn không nguôi nỗi nhớ
quê cha đất tổ. Ông cho xây dựng một ngôi đình kiểu Đại Việt để thờ các
vị vua Lý và muốn mọi người có một nơi chốn cụ thể để hoài niệm cố
hương. Cuối đời, Lý Long Tường hay lên đỉnh núi Quảng Đại, ngồi nhìn về
phương nam.
Trải qua mấy trăm năm, các hậu duệ họ Lý ly hương vẫn tìm về quê
cha đất tổ. Khi sang miền Nam VN ngày 6.11.1958, Tổng thống Hàn Quốc lúc
bấy giờ là Lý Thừa Vãn đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt.
Thông tin này đã được báo chí Sài Gòn công bố. Và dòng họ Lý gốc Việt
tại Hàn Quốc cũng thừa nhận Tổng thống Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25
của hoàng thân Lý Long Tường.
Trước năm 1975, hậu duệ đời thứ 30 của Lý Long Tường là ông Lý
Khánh Huân đã cất công sang Sài Gòn tìm kiếm cội nguồn nhưng đất nước
còn chiến tranh, hai miền còn chia cắt cho nên ông chưa thể về được đất
tổ ở Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh.
Điều này đã được con trai ông Huân là Lý Xương Căn - hậu duệ đời
thứ 31 của Lý Long Tường thực hiện. Ngày 18.5.1994, Lý Xương Căn - người
họ Lý đầu tiên làm được “sứ mệnh tổ tiên” - đã làm lễ cúng bái tổ tiên ở
đền Lý Bát Đế - nơi thờ cúng 8 vị vua nhà Lý - ở TX.Từ Sơn, Bắc Ninh.
Năm 1995, sang VN dự lễ Quốc khánh 2.9 tại quảng trường Ba Đình,
ông Lý Xương Căn đã được gặp và tặng Tổng bí thư Đỗ Mười tấm liễn có
dòng chữ: “Tuy sống nơi xa vạn dặm. Nhưng lòng vẫn luôn hướng về Việt
Nam”.
0 comments:
Post a Comment